Thuốc Garnotal 100mg | Diễn đàn DHTN | SEO, Công nghệ, IT, mua bán

Website nhà tài trợ:

  1. Khách đăng sai mục 1 lần là banned nhé ! Không nhắc nhở không báo trước nhé !
    Dismiss Notice
  2. Diễn đàn SEO chất lượng, rao vặt miễn phí có PA, DA cao: aiti.edu.vn | kenhsinhvien.edu.vn | vnmu.edu.vn | dhtn.edu.vn | sen.edu.vn
    Dismiss Notice
    • ĐT: 0939 713 069
    • Mail: tanbomarketing@gmail.com
    • Skype: dangtanbo.kiet
    Dismiss Notice

Thuốc Garnotal 100mg

Thảo luận trong 'Bày Thuốc - Cách Chữa bệnh' bắt đầu bởi nhathuocaz123hapu, 22/9/23.

XenForohosting
  1. (Website tài trợ: kiến trúc nhà ở đẹp)
    Thành phần của thuốc Garnotal
    • Mỗi viên nén của thuốc Garnotal có chứa 10mg Phenobarbital và một số với tá dược vừa đủ 1 viên.
    Công dụng – Chỉ định của thuốc Garnotal 100mg
    Thuốc Garnotal 100 mg được Cục quản lý Dược – Bộ Y tế Việt Nam cấp phép được chỉ định trong điều trị trong 3 nhóm bệnh sau:

    • Động kinh (trừ động kinh cơn nhỏ): Động kinh cơn lớn, động kinh rung giật cơ, động kinh cục bộ.
    • Phòng co giật do sốt cao tái phát ở trẻ nhỏ.
    • Vàng da sơ sinh, người bệnh mắc chứng tăng bilirubin huyết không liên hợp bẩm sinh, không tan huyết bẩm sinh và người bệnh ứ mật mạn tính trong gan.
    Garnotal 100 mg là thuốc kê đơn kiểm soát đặc biệt, bệnh nhân cần có đơn thuốc khi đến mua tại các Hiệu thuốc trên cả nước.

    Dược lực học của Thuốc Garnotal 100mg
    Thuốc Garnotal 100mg chứa Phenobarbital là một hoạt chất có tác dụng chống co giật thuộc dẫn xuất của acid barbituric.

    Phenobarbital và các barbiturat khác có tác dụng tăng cường tác dụng ức chế synapse của acid gama aminobutyric (GABA) ở não, dẫn đến ức chế hoạt động của hệ thần kinh trung ương. Điều này cho thấy các loại thuốc này có sự tương đồng với các benzodiazepine. Tuy nhiên, khác với benzodiazepine, các barbiturat có khả năng ức chế không chọn lọc khi tăng liều, không chỉ tác động đến synapse một cách chọn lọc. Phenobarbital và các barbiturat khác làm giảm sử dụng oxy ở não trong quá trình gây mê, có thể thông qua việc ức chế hoạt động của neuron. Các tác động này là cơ sở cho việc sử dụng barbiturat để đề phòng nhồi máu não khi có thiếu máu não cục bộ và khi có tổn thương sọ não.

    Barbiturat ức chế có khả năng ảnh hưởng đến khả năng phục hồi hoạt động của tất cả các mô, nhưng không phải tất cả các mô sẽ bị ảnh hưởng một cách tương đồng với cùng nồng độ trong huyết tương hoặc với các liều tương đương. Hệ thần kinh trung ương đáp ứng nhạy cảm hơn đáng kể với barbiturat; liều gây buồn ngủ và an thần không tác động mạnh lên cơ bắp, tim và cơ trơn. Phenobarbital ức chế hệ thần kinh trung ương ở mọi mức độ từ trạng thái buồn ngủ đến trạng thái gây mê. Thuốc chỉ tạm thời ức chế các phản ứng synapse đơn trong hệ thần kinh trung ương, nhưng việc phục hồi synapse bị chậm lại và có sự giảm trở kháng sau synapse tại một số synapse, các phản ứng đa synapse bị ảnh hưởng nhiều hơn; điều này giải thích tại sao tác dụng chống co giật và tác dụng ức chế của thuốc kéo dài.

    Phenobarbital chủ yếu được sử dụng để điều trị co giật, tuy nhiên, nó còn được sử dụng một phần để điều trị hội chứng cai rượu. Tác động chống co giật của thuốc không đặc hiệu; nó hạn chế việc co giật lan tỏa và làm tăng ngưỡng động kinh. Thuốc thường được chỉ định cho cả cơn co giật tổng thể (cơn co lớn) và co giật cục bộ (liên quan đến sự cảm giác hoặc chuyển động cục bộ).

    Phenobarbital cũng có khả năng làm giảm nồng độ bilirubin huyết ở trẻ sơ sinh, đặc biệt ở những trường hợp tăng bilirubin huyết không liên hợp, không tan huyết bẩm sinh và ở người bệnh bị tắc ứ mật trong gan, do kích thích enzym glucuronyl transferase, một enzym quan trọng trong quá trình liên hợp bilirubin.

    Dược động học của Garnotal 100mg
    Thuốc Garnotal 100mg chứa hoạt chất Phenobarbital, khi sử dụng qua đường uống, có quá trình hấp thu chậm tại ống tiêu hóa (70 – 90%). Khi sử dụng qua đường trực tràng, thuốc được hấp thu nhanh chóng và hoàn toàn. Trong trường hợp sử dụng qua đường tiêm tĩnh mạch, tác dụng của thuốc xuất hiện sau khoảng 5 phút và đạt mức tối đa trong vòng 30 phút. Khi sử dụng qua đường tiêm bắp, tác dụng xuất hiện chậm hơn một chút. Thuốc sử dụng qua đường tiêm tĩnh mạch có thời gian tác dụng kéo dài từ 4 đến 6 giờ.

    Nồng độ đỉnh của Phenobarbital trong huyết tương sau khi uống thường đạt được sau 8 – 12 giờ ở người lớn và sau 4 giờ ở trẻ em. Nồng độ đỉnh trong não thường đạt được sau 10 – 15 giờ. Phenobarbital kết hợp với protein trong huyết tương (đạt tới 60% ở trẻ nhỏ và 50% ở người lớn) và được phân bố rộng rãi trong các mô, đặc biệt là trong não, do khả năng tan trong mô mỡ. Thể tích phân bố của thuốc là 0,5 – 1 lít/kg.

    Phenobarbital có nửa đời loại bỏ khỏi huyết tương dài (từ 2 đến 6 ngày) và nó thay đổi tùy theo độ tuổi của người sử dụng. Ở trẻ em từ 1 đến 10 tuổi, phenobarbital được đào thải nhanh hơn nhiều so với người lớn (từ 40 đến 50 giờ ở trẻ em và từ 84 đến 160 giờ ở người lớn). Người bệnh có suy gan hoặc suy thận thường có nửa đời loại bỏ kéo dài hơn nhiều. Do đó, cần từ 15 đến 21 ngày sử dụng thuốc để đạt được trạng thái cân bằng trong huyết tương.

    Phenobarbital trải qua quá trình hydroxyl hóa và liên hợp tại gan. Thuốc được đào thải chủ yếu qua nước tiểu dưới dạng các chất chuyển hóa không có hoạt tính (chiếm 70%) và dưới dạng dạng thuốc nguyên vẹn (chiếm 30%). Một lượng nhỏ có thể được đào thải qua mật và phân thải qua phân.

    Phenobarbital là một chất cản trở mạnh đối với cytochrome P450, có thể ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa của các loại thuốc khác thông qua cytochrome P450.
     

Chia sẻ trang này